8 lĩnh vực lập pháp quan trọng

Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 09 /11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra các yêu cầu cho việc nâng cao chất lượng công tác lập pháp của Quốc hội, nhằm đáp ứng tốt hơn bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

Thời gian vừa qua, tư duy lập pháp ở Việt Nam có nhiều thay đổi thể hiện qua quy trình và sản phẩm lập pháp. Chúng ta đã có nhiều cải thiện liên quan đến tính minh bạch trong quá trình lập pháp thông qua các cuộc họp công khai và sử dụng công nghệ thông tin để thu thập ý kiến của công chúng về các dự luật và chính sách. Tuy nhiên, để đáp ứng tốt hơn các yêu cầu đặt ra của bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam theo đúng tinh thần của Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới, trong thời gian tới, hoạt động lập pháp cần tập trung vào 8 lĩnh vực quan trọng như sau:[2]

Thứ nhất, trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chủ quyền, biên giới quốc gia: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật để kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Tiếp tục luật hóa để làm cơ sở pháp lý thực hiện thành công các chiến lược như: Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng… Trong đó, chú ý đến việc xây dựng cơ sở pháp lý để bảo vệ Chủ quyền quốc gia về vùng trời như khẳng định trang trọng ngay tại Điều 1 của Hiến pháp 2013.[3] Nghiên cứu để hoàn thiện cơ sở pháp lý khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Tiếp tục khẳng định vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân: Tập trung xây dựng cơ sở pháp lý để xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong phân công, phối hợp và giám sát việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoàn thiện cơ chế giám sát của tư pháp đối với lập pháp và hành pháp. Thực hiện tốt chức năng của Nhà nước, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Nhà nước tập trung vào quản lý vĩ mô, nâng cao chất lượng xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Đẩy mạnh và hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền, ủy quyền, bảo đảm quản lý thống nhất, hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Hoàn thiện hệ thống pháp luật để xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, bảo đảm công khai, minh bạch, quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Thể chế hóa bằng luật để xây dựng và thực hiện phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân, bám sát thực tiễn, chịu khó học hỏi, nói đi đôi với làm.

Thứ ba, trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền con người, quyền công dân: Hoàn thiện cơ sở pháp lý để thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Xây dựng cơ chế pháp lý để hiện thực hóa nội dung mới được bổ sung tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng là ” dân giám sát, dân thụ hưởng” để thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát của Nhân dân. Tạo sơ cơ sở pháp lý để làm cho người dân trao quyền mà không mất quyền, các cơ quan nhà nước và cá nhân được trao quyền mà không tiếm quyền của dân; đây là vấn đề quyết định nhất bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân. Phát huy mạnh mẽ và đặt yêu cầu lắng nghe Nhân dân, phục vụ Nhân dân là yêu cầu tối cao trong hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội nhằm hoàn thành trọng trách mà Nhân dân giao. Hoạt động lập pháp phải hướng đến mục tiêu con người, tức là giải phóng mọi tiềm năng của dân, chăm lo bồi dưỡng sức dân, phát triển sức dân lại phải tiết kiệm sức dân. Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các luật cụ thể hòa quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp như quyền lập hội, quyền biểu tình để ban hành vào thời điểm thích hợp.

Thứ tư, trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phát triển bền vững kinh tế – xã hội – môi trường: Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Xây dựng pháp luật để phát huy đổi mới sáng tạo, tận dụng tối đa lợi ích và giảm thiểu tối đa rủi ro của cuộc Cách mạng này, hướng đến việc giải quyết hàng loạt các vấn đề đặt ra trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.[4] Xây dựng các sandbox về mô hình đầu tư kinh doanh mới, trong đó, có mô hình như kinh tế chia sẻ, du lịch thông minh, fintech…. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng và bố trí nguồn lực nhằm phát huy lợi thế vùng, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. Cải cách thể chế về quyền tài sản, tập trung vào các khâu đăng ký sở hữu và sử dụng tài sản, xử lý tài sản thế chấp ngân hàng, thủ tục phá sản. Hoàn thiện pháp luật để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, bảo đảm công khai, minh bạch và khắc phục tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí. Đẩy nhanh hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách bảo đảm đồng bộ, minh bạch các yếu tố thị trường để có khả năng vốn hóa các nguồn lực tài nguyên, phân bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội với bảo vệ môi trường.

Thứ năm, trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế: Hoàn thiện hệ thống pháp luật, làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện nhiều hình thức hội nhập quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn. Nội luật hóa đầy đủ và phù hợp những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Mở rộng bao phủ của hoạt động lập pháp không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà vươn ra tầm khu vực và quốc tế. Theo đó, cần chủ động chuyển từ việc tham gia các luật chơi định sẵn thành chủ thể thiết kế luật chơi trên trường quốc tế, từng bước đề xuất các điều ước quốc tế từ thực tiễn Việt Nam. Để làm được điều này phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vừa am hiểu sâu về điều kiện trong nước vừa có kiến thức sâu về luật pháp quốc tế, nhất là về thương mại, đầu tư, lao động quốc tế; có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế.

  Thứ sáu, trong quy trình lập pháp: Mở rộng dân chủ trong xây dựng pháp luật để các quy định của luật có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn, có căn cứ khoa học và bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng và thẩm tra luật. Đổi mới mạnh mẽ về cách thức, phương thức lấy ý kiến của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, huy động sự tham vấn của các chuyên gia, nhà khoa học, đồng thời, đánh giá thực tiễn đầy đủ, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, của đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của dự luật để bảo đảm tính phản biện, khách quan. Nghiên cứu xây dựng cơ chế vận động chính sách trong xây dựng pháp luật bảo đảm khách quan, minh bạch, có kiểm soát, giám sát chặt chẽ. Đây là biện pháp cần thiết, hữu hiệu để mở rộng dân chủ trong hoạt động lập pháp, chống lợi ích nhóm trong hoạt động lập pháp.

Thứ bảy, trong tổ chức thi thành pháp luật: Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan ban hành pháp luật, cơ quan tổ chức thi hành pháp luật và cơ quan bảo vệ pháp luật. Tập trung chỉ đạo quyết liệt, đầu tư hợp lý nguồn lực và các điều kiện để thực hiện tốt các nhiệm vụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật; cải cách thủ tục hành chính; kiện toàn tổ chức, tinh giảm hợp lý đầu mối, bỏ cấp trung gian trong thi hành pháp luật. Tăng cường và đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tư vấn, trợ giúp pháp lý để pháp luật được triển khai thực hiện trong cuộc sống. Thường xuyên tiến hành giám sát, đánh giá, tổng kết thi hành pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản pháp luật, kịp thời phát hiện và khắc phục những điểm bất cập, thiếu sót, mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật.

Thứ tám, trong tuyên truyền, phổ biến, lan tỏa, phát huy tư duy mới về lập pháp trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta: Tiếp tục nâng cao nhận thức cho các Đại biểu Quốc hội, cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật về nội dung, giá trị và ý nghĩa to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về lập pháp; xác định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hoạt động lập pháp. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp, hình thức học tập, tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về lập pháp trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đẩy mạnh việc phát hiện, bồi dưỡng, biểu dương, tuyên truyền, nhân rộng các tấm gương, điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác trong xây dựng pháp luật. Nâng cao chất lượng, hiệu quả việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động lập pháp đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổng kết thực tiễn và xây dựng pháp luật để giải quyết hiệu quả những vấn đề đang đặt ra trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

Đề xuất thay đổi tư duy lập pháp

Trên cơ sở những nhận định trên, cùng với đề xuất thay đổi tư duy lập pháp nói chung, chúng tôi xin đề xuất thay đổi tư duy nhằm sửa đổi, bổ sung các Luật cụ thể sau đây:

1. Sửa đổi, bổ sung các luật về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Doanh nghiệp…  theo hướng: Xác định rõ những việc gì chính quyền phải làm, bắt buộc phải làm (giới hạn tối thiểu) còn lại giao thị trường, doanh nghiệp và xã hội làm.

Các đại biểu biểu quyết thông qua dự án Luật

2. Sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân theo hướng:

– Bổ sung các quy định nhằm tăng cường hoạt động giải trình tại các cơ quan của Quốc hội (đa dạng hơn về hình thức tổ chức, thẩm quyền yêu cầu giải trình, về lĩnh vực giải trình ví dụ như trong hoạt động lập pháp, trong hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước);

– Sửa đổi các quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của ĐBQH đối với các hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là hoạt động lập pháp;

– Bổ sung các quy định nhằm đánh giá tốt hơn chất lượng, năng lực hoạt động của ĐBQH; tăng cường tính chuyên nghiệp của ĐBQH.

  3. Xây dựng Luật về đơn vị sự nghiệp công lập nhằm thể chế hóa Kết luận số 62-KL/TW (ngày 2/10/2023) của Bộ Chính trị về thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị quyết 19). Trong đó, tập trung vào các nội dung:

– Bảo đảm khuôn khổ pháp lý đầy đủ, đồng bộ, khả thi, đáp ứng yêu cầu thực hiện Nghị quyết 19 gắn với các chủ trương của Đảng có liên quan, nhất là về tổ chức bộ máy, tiêu chí và điều kiện sắp xếp, nhân lực và cơ cấu đội ngũ, chế độ, chính sách, chú trọng chính sách thu hút nhân tài, người có chuyên môn nghiệp vụ giỏi,

– Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, chính sách tiền lương phù hợp với đặc thù của ngành, lĩnh vực sự nghiệp;

– Định mức kinh tế – kỹ thuật để định giá từng loại hình dịch vụ sự nghiệp công, hoàn thành lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công, xác định rõ chính sách phúc lợi, chính sách an sinh trong giá dịch vụ sự nghiệp công;

– Cơ chế kiểm tra, kiểm soát, giám sát, quản trị theo hướng tăng cường dân chủ, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; hoạt động kiểm định, định giá, đánh giá độc lập chất lượng dịch vụ sự nghiệp công.

4. Sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng:

– Bổ sung thêm các quy định nhằm nâng cáo chất lượng của hồ sơ đề nghị xây dựng luật, theo đó, chú trọng đến các sản phẩm như: báo cáo tổng kết thi hành luật; báo cáo đánh giá tác động phải bảo đảm tính khách quan;

– Bổ sung thêm các quy định nhằm tăng cường chất lượng , trách nhiệm của cơ quan soạn thảo dự án luật, cơ quan trình dự án luật;

– Bổ sung thêm các quy định về mô hình xây dựng chính sách, pháp luật trên cơ sở bằng chứng; gắn quy trình xây dựng chính sách với quy trình xây dựng pháp luật ngay từ khu xem xét đưa vào Chương trình;

– Bổ sung thêm các quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của các bên tham gia, đảm bảo sự tham gia của đông đảo các tầng lớp trong xã hội, chú trọng đến các đối tượng chịu tác động của các quy phạm pháp luật;

– Sửa đổi các quy định về trình tự, thủ tục lập pháp tại Quốc hội, tập trung tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thẩm tra với cơ quan xây dựng dự thảo và cơ quan trình dự thảo ở giai đoạn thẩm tra luật của Quốc hội;

– Bổ sung thêm các quy định nhằm tăng cường sự sáng tạo và linh hoạt trong xây dựng pháp luật; tăng cường khả năng áp dụng công nghệ và dữ liệu trong xây dựng pháp luật; thúc đẩy đối thoại và hợp tác trong xây dựng pháp luật.

5. Hoàn thiện pháp luật về vận động chính sách theo hướng:

– Đề cao hoạt động vận động chính sách, nhưng đồng thời thấy được những hệ lụy, tiêu cực của nó nếu thiếu kiểm soát, quản lý;

– Hoạt động vận động vận động chính sách như một công cụ hữu hiệu của nhà nước và xã hội trong phòng, chống tham nhũng;

– Pháp luật cần hướng đến việc bảo đảm sự công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và liêm chính trong hoạt động vận động chính sách;

– Pháp luật cần chú trọng xây dựng cơ chế thực thi, giám sát và xử lý các hành vi sai phạm trong hoạt động vận động chính sách. 

– Cân nhắc lựa chọn hình thức văn bản pháp luật phù hợp; trước mắt hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành, tiến tới xây dựng luật về vận động chính sách trong tương lai.

Tư duy lập pháp là một chủ đề khó bởi tư duy là một quá trình liên tục và cần phải điều chỉnh và thích nghi với sự thay đổi của điều kiện chính trị – kinh tế – xã hội.  Trên kết quả nghiên cứu và đề xuất nêu trên, tác giả cho rằng một số vấn đề sau cần tiếp tục được nghiên cứu và phát triển: (i) Khảo sát thực tiễn nhận thức các các bộ làm công tác xây dựng pháp luật về tư duy lập pháp trong bối cảnh xây dựng NNPQ XHCN; (ii) Nghiên cứu so sánh tác động của CMCN 4.0 đến tư duy lập pháp nhất là ở các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi; (iii) Tác động của hội nhập quốc tế, nhất là các cam kết quốc tế đến tư duy và “chủ quyền” lập pháp của các quốc gia đang phát triển;  (iv) Sự kiểm soát trở lại của hành pháp và tư pháp đối với tư duy lập pháp và (v) Sự thay đổi của văn hóa truyền thống và tác động của chúng đến tư duy lập pháp ở nước ta ./.

 

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) – Ảnh: Qh.vn


* Đại biểu Quốc hội khóa XV, Ủy viên Ủy ban Xã hội của Quốc hội.

** Trung tâm Nghiên cứu pháp luật về Kinh tế – Xã hội, Viện Nghiên cứu lập pháp.

[1] Bài viết là kết quả Đề tài cấp bộ “Đổi mới tư duy lập pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” do TS. Phạm Trọng Nghĩa, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Xã hội của Quốc hội làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu lập pháp làm chủ trì. 

[2] Xem thêm Giáo sư. Tiến sĩ Vương Đình Huệ, 2021, Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” tại địa chỉ

[3] Điều 1 Hiến pháp 2013 quy định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”

[4] Như: (i) Liệu Robot có thể có được quyền như con người hay không, có trách nhiệm pháp lý hay không? Có “quyền công dân” không? (ii) Liệu Robot có được tham gia vào việc sử dụng vũ lực không? Có được quyết định việc sử dụng vũ lực hay không? (iii) Ranh giới giữa Robot và bảo vệ đời tư, sinh mạng của con người cũng như các chủ thể khác ra sao?  (iv) Giải quyết tranh chấp giữa các Robot với Robot, Robot với con người thế nào? (v) Khái niệm tài sản sẽ phải thay đổi thế nào? tài sản “ảo” sẽ được bảo vệ và quản lý ra sao? (vi) Trách nhiệm dân sự của chủ Robot, của Robot với bên thứ 3 ra sao? (vi) Nếu Việt Nam cho phép xe tự lái hoạt động trên đường, và trong trường hợp xe này gây tai nạn thì trách nhiệm thuộc về ai? Thuộc về chiếc xe, phần mềm, hay công ty quản lý; hay (vii) Việc cân bằng giữa quyền khai thác tài nguyên dữ liệu và quyền bảo vệ bí mật đời tư của cá nhân thế nào?…

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

sex

789bet

jun88

jun88

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex